Kiến Thức Phong Thủy V - Dịch lý cơ bản

Dịch là sự biến đổi, tức là tùy thời mà biến đổi để theo Đạo. Nó bao trùm tất cả vạn vật, rộng lớn, đầy đủ, hầu để thuận theo lẽ tính mệnh. Thông đạt cõi u minh, thấu hiểu tình trạng muôn vật mà bảo cho mở mang các vật. Thánh nhân lo cho đời sau như thế, có thể gọi là tột cùng vậy.

Dịch lý cơ bản

Dịch Lý: " Trích dẫn cổ nhân" 


Dịch là sự biến đổi, tức là tùy thời mà biến đổi để theo Đạo.Nó bao trùm tất cả vạn vật, rộng lớn, đầy đủ, hầu để thuận theo lẽ tính mệnh.Thông đạt cõi u minh, thấu hiểu tình trạng muôn vật mà bảo cho mở mang các vật.Thánh nhân lo cho đời sau như thế, có thể gọi là tột cùng vậy. 

Nay cách đời cổ chưa xa, sách xót hãy còn, nhưng thế nhân bỏ ý để truyền lời, kẻ hậu học thì đọc lời mà quên ý. Dịch đã thất truyền từ lâu. 

Dịch có bốn điều thuộc về Đạo của thánh nhân: Để nói thì chuộng lời, để hành động thì chuộng sự biến thông, để quan sát thì chuộng hình tượng, để chiêm đoán thì chuộng lý mệnh.Cái lẽ lành dữ, cái Đạo tiến lui, được mất, có đủ ở lời, suy ở ý, lý ở mệnh. Suy lời xét quẻ, hình của tượng, ý của lời, số của mệnh.Có thể biết sự biến đổi thì sự chiêm đoán tự nhiên vẹn toàn ở trong đó vậy. 

Quân tử khi yên thì coi hình, tượng và ngẫm lời lẽ của nó, khi hành động thì coi sự biến đổi mà suy đoán ý của nó.Hiểu lời mà thông đạt ý của nó, thì vẹn toàn, hanh thông.Rất huyền vi là lý, rất tỏ rõ là tượng, tĩnh thì bất biến, động thì biến thông, sự của nó trong tĩnh có động, trong động có tĩnh, xem sự hanh thông mà thi hành điển lễ của nó, thì lời không có gì không đủ. 

Cho nên kẻ khéo học Dịch, tìm kiếm về lời, phải tự chỗ gần trước đã, nếu mà khinh rẻ chỗ gần thì không phải kẻ biết nói Kinh Dịch, còn sự do lời mà biết ý thì cốt ở người vậy. 

Hà đồ - Lạc thư 

https://i.imgur.com/5RtYvMk.jpg

Sông Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư, thánh nhân bắt chước các thứ đó, lại nói: " Trời một đất hai, trời ba đất bốn, trời lăm đất sáu, trời bảy đất tám, trời chín đất mười. Số của trời là lăm, số của đất là lăm".Ngôi< lăm> tương đắc với nhau mà số nào số ấy lại có sự hội họp với nhau cả, thì số của trời là hai mươi lăm, số của đất là ba mươi.Cộng cả số của trời đất là lăm mươi lăm.Đó là cái để làm thành sự, biến hóa mà thông hành => Ấy là số của Hà đồ.

Lạc thư thì theo ở hình tượng của con Rùa, nên có số của nó: Đội bằng chín, dẫm lên một, phía tả ba, phía hữu bảy, hai và bốn làm vai, sáu và tám làm chân.

Lại nói: Nét của Hà đồ: Bảy trước sáu sau, tám ở tả, chín ở hữu.

Nét của Lạc thư: Chín trước, một sau, ba ở tả, bảy ở hữu, bốn ở phía tả đằng trước, hai ở phía hữu đằng trước, tám ở phía tả đằng sau, sáu ở phía hữu đằng sau.Bởi vì tròn là số của của Hà đồ, vuông là số của Lạc thư.

Trong khoảng trời đất, chỉ có một vật là khí chia ra làm hai, một Âm, một Dương; năm hành gây dựng, muôn vật trước sau, đều bị cai quản ở đó. 

Cho nên ngôi của Hà đồ:Một và sáu cùng tông, mà ở về phương Bắc.Hai và bảy làm bạn mà ở về phương Nam, ba và tám đồng đạo mà về phương Đông.Bốn với chín thành lứa mà về phương Tây, năm và mười giữ đạo lẫn nhau mà ở chính giữa.

Nghĩa của nó chẳng qua là một chẵn một lẽ, một Âm, một Dương để làm gấp đôi năm hành mà thôi.Gọi là trời, tức dương nhẹ trong, ngôi ở bên trên; gọi là đất tức khí âm nặng đục, ngôi ở bên dưới.Số Dương lẻ, cho nên một, ba, năm, bảy, chín đều thuộc về trời: 

Đó là số của trời có lăm.Số Âm chẵn, cho nên hai, bốn, sáu, tám, mười đều thuộc về đất, đó là số của đất có lăm.Số của trời và đất, đàng nào theo đàng ấy, mà tìm lẫn nhau. Ngôi" Năm" tương đắc với nhau là thế.

Trời lấy số một mà sinh hành Thủy, đất lấy số sáu mà làm cho thành; đất lấy số hai mà sinh hành Hỏa, trời lấy số bảy mà làm cho thành; trời lấy số ba mà sinh hành Mộc, đất lấy số tám mà làm cho thành; đất lấy số bốn mà sinh hành Kim, trời lấy số chín mà làm cho thành; trời lấy số năm mà sinh hành Thổ, đất lấy số mười mà làm cho thành.

Đó là các số đều có sự hợp thành nhau.

Tại sao ngôi và số của Hà đồ, Lạc thư không giống nhau ?

Đáp rằng: Hà đồ dùng lăm số sinh, tóm lăm số thành, cùng ở một phương, ấy là nêu cái hình, tượng để nói về lời dẫn ý tượng số vậy.Lạc thư dùng lăm số lẻ tóm bốn số chẵn, mà số nào số ấy ở riêng chỗ nhau, đó là chủ về Dương để tóm Âm, mà gây cái dụng của sự biến.

Lại hỏi: Tại sao Hà đồ, Lạc thư đều cho số lăm ở giữa ?

Đáp rằng: Các số lúc đầu, chỉ là một Âm, một Dương mà thôi, tượng của Dương tròn, tròn thì đường kính một phần, chu vi ba phần; tượng của Âm vuông, vuông thì đường kính một phần, chu vi bốn phần.Chu vi ba phần thì lấy một làm "một", cho nên nhân với một Dương mà thành ra ba.Chu vi bốn phần thì lấy số hai làm "một", cho nên nhân với một Âm mà thành ra hai. 

Đó là nhân ba với trời, nhân hai với đất vậy.Hai và ba hợp lại, thì thành ra lăm, vì vậy Hà đồ, Lạc thư đều lấy số lăm làm giữa.Nhưng mà Hà đồ thì lấy số sinh làm chủ, cho nên ở giữa phải lăm, cho đủ tượng của lăm số sinh; một chấm ở dưới là tượng số một của trời, một chấm ở trên là tượng số hai của đất, một chấm phía tả là tượng số ba của trời, một chấm phía hữu là tượng số bốn của đất, một chấm chính giữa là tượng số lăm của trời.Lạc thư thì lấy số lẻ làm chủ, cho nên ở giữa phải lăm, cho đủ tượng của lăm số lẻ: 

Một chấm ở dưới cũng là tượng số một của trời, một chấm phía tả cũng là tượng số ba của trời, một chấm chính giữa cũng là tượng số lăm của trời, một chấm phía hữu cũng là tượng số bảy của trời, một chấm phía trên là tượng số chín của trời.

Số và ngôi của hai thứ đó ba chỗ giống nhau, hai chỗ khác nhau, là vì Dương không thể đổi, mà Âm thì có thể đổi, số "thành" tuy thuộc về Dương, nhưng cũng là Âm của số "sinh" vậy.

Lại hỏi:"Lăm" ở chính giữa, đành là tượng của lăm số, thế thì cái số của nó ra sao ?

Đáp rằng: Nói về số, thì suốt trong một "đồ" đều có những số tích thực có thể ghi chép, nhưng một, hai, ba, bốn của Hà đồ đều ở bên ngoài bốn phương, chốn của lăm tượng, và sáu, bảy, tám, chín thì lại nhân có số lăm mà được cái số của nó để phủ phía ngoài phương chốn của lăm tượng, mà hai, bốn, sáu, tám, lại số nào nhân loại số ấy để phụ vào cạnh số lẻ. 

Bởi vì ở trong là chủ, ở ngoài là khách, ở giữa là vua, mà ở bên cạnh là tôi, đều có nghành ngọn, không thể trái lầm.

Lại hỏi: Bên nhiều, bên ít là cớ làm sao ?

Đáp rằng: Hà đồ chủ về hoàn toàn, nên nó cùng cực đến số mười, mà ngôi lẻ, ngôi chẵn của nó đều xét về sự tích thực, thì sau mới thấy chẵn thừa lẻ thiếu.

Lạc thư chủ về biến đổi, nên nó cùng cực đến số chín mà ngôi vị và thực chất của nó, đều lẻ thừa, chẵn thiếu.Ắt đều để trống ở giữa rồi sau số của Âm Dương mới đều hai mươi.

Lại hỏi: Thứ tự của nó không giống nhau sao ?

Đáp rằng: Hà đồ nói về thứ tự sinh ra, thì bắt đầu từ dưới lên trên, đến tả, đến hữu, vào giữa rồi lại bắt đầu từ dưới; nói về thứ tự vận  hành, thì từ Đông, đến Nam, đến giữa, đến Tây, đến Bắc theo tả mà xoay một vòng, rồi lại bắt đầu từ Đông; trong các số sinh ở trong, số Dương ở dưới về phía tả, số Âm ở trên về phía hữu, trong các số Thành ở ngoài: Số Âm ở dưới về phía tả, số Dương ở trên về phía hữu.Thứ tự của Lạc thư thì số Dương bắt đầu từ Bắc đến Đông, đến giữa, đến Tây, đến Nam; số Âm bắt đầu từ Tây Nam, đến Đông Nam, đến Tây Bắc, đến Đông Bắc; hợp lại mà nói thì bắt đầu từ Bắc đến Tây Nam, đến Đông, đến Đông Bắc, cuối ở Nam.Còn sự vận hành của nó thì Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, theo phía hữu mà xoay một vòng, rồi Thổ lại khắc Thủy.

Lại hỏi: Tại sao những số bảy, tám, chín, sáu của hai thứ lại không giống nhau ?Đáp rằng: Các số sáu, bảy, tám, chín của Hà đồ đã phụ ở ngoài số sinh rồi, đấy là phần chính của Âm Dương, già, trẻ, tiến, lui, thừa, thiếu.Số chín của nó tức là mấy số một, ba, lăm trong số sinh tích lại mà thành ra, cho nên nó phải từ Bắc sang Đông, từ Đông sang Tây, để làm cho thành phía ngoài của số bốn, số sáu của nó tức là hai số hai, bốn trong số sinh tích lại mà thành ra, cho nên nó phải từ Nam sang Tây, từ Tây sang Bắc để làm cho phía ngoài của số một, số bảy tức là số chín từ Tây sang Nam, số tám tức là số sáu từ Bắc sang Đông.

Đó là sự biến đổi của các số Âm Dương, già trẻ đắp đổi ở "nhà" của nhau.Lạc thư ngang dọc mười lăm mà bảy, tám, chín, sáu đắp đổi tiêu, lớn, bỏ trống số lăm, chia sẻ số mười, mà số một ngậm số chín, số hai ngậm số tám, số ba ngậm số bảy, số bốn ngậm số sáu, thì lăm, ba lộn góp, tới đâu cũng gặp số hợp vì vậy mà sự biến hóa vô cùng mới thành ra sự huyền diệu.

Lại hỏi: Thế thì thánh nhân bắt chước ra sao ?

Đáp rằng: Hà đồ thì bỏ trống giữa, Lạc thư thì tóm thực tượng: Hà đồ bỏ trống số lăm, số mười, đó là Thái cực; số lẻ hai mươi, số chẵn hai mươi, ấy là hai Nghi, lấy một, hai, ba, bốn, làm lăm, sáu, bảy, tám.Đó là bốn Tượng; chia số "hợp" của bốn phương để làm Kiền, Khôn, Ly, Khảm, bù chỗ trống của bốn góc để làm Đoài, Chấn, Tốn, Cấn. Đó là tám quẻ.Cổ nhân làm ra Kinh Dịch khéo léo không thể nói hết được, số của Thái Dương là chín, số của Thiếu Âm là tám, số của Thiếu Dương là bảy, số của Thái Âm là sáu.

Nguyên lai tất cả có mưởi số, Thái Dương ở ngôi một, trừ đi số của bản thân thì còn chín số, Thiếu Âm ở ngôi hai, trừ đi số của bản thân thì còn tám số, Thiếu Dương ở ngôi ba, trừ đi số bản thân thì còn bảy số, Thái Âm ở ngôi bốn, trừ đi số bản thân thì còn sáu số.Dịch có Thái cực sinh ra hai Nghi, hai Nghi sinh ra bốn Tượng, bốn Tượng sinh ra tám quẻ.Dịch tức là cách tính ngược: Kiền một, Đoài hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn lăm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám đều là những quẻ chưa sinh, như kể ngược thứ tự bốn mùa vậy.Thái cực là tên của bầu " Tượng số chưa hiện hình mà lý lẽ đã đủ vậy".Và là mục của đám "hình khí đã đủ" mà lý lẽ thì chưa có mầm mống.

Ở Hà đồ, Lạc thư, nó đều là tượng trống rỗng ở giữa.Thái cực tách ra, mới sinh một lẽ, một chẵn, thành ra hai cái vạch, ấy là hai Nghi, số của nó thì Âm một, mà Dương hai, ở Hà đồ, Lạc thư là chẵn với lẻ. Phía trên hai Nghi, mỗi đàng lại sinh thêm ra một chẵn, một lẻ nữa, thành ra bốn cái "hai vạch" ấy là bốn Tượng, ngôi của nó là: Thái Dương một, Thiếu Âm hai, Thiếu Dương ba, Thái Âm bốn, số của nó thì Thái Dương chín, Thiếu Âm tám, Thiếu Dương bảy, Thái Âm sáu.Nói về Hà đồ thì sáu là số một được số lăm, bảy là số hai được số lăm, tám là số ba được số lăm, chín là số bốn được số lăm.

Nói về Lạc thư thì: Chín là số thừa của mười trừ một, tám là số thừa của mười trừ hai, bảy là số thừa của mười trừ ba, sáu là số thừa của mười trừ bốn.Phía trên bốn Tượng, mỗi thứ lại sinh thêm một chẵn, một lẻ nữa, thành ra tám cái "ba vạch" thế là tam Tài tạm đủ, mà có cái tên tám quẻ " Bát quái". 

Ngôi của nó, Kiền một, Đoài hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn lăm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám.Ở Hà đồ thì, Kiền, Khôn, Ly, Khảm, ở bốn chỗ thực, Đoài, Chấn, Tốn, Cấn, ở bốn chỗ hư. Ở Lạc thư thì, Kiền, Khôn, Ly, Khảm ở giữa bốn phương, Đoài, Chấn, Tốn, Cấn ở ra bốn góc.

Lại hỏi: Dịch có Thái cực, sinh hai Nghi, hai Nghi sinh bốn Tượng, bốn Tượng sinh tám quái, thế là thế nào ?

Đáp rằng: Chữ Thái cực đó là nói về sự vạch quẻ, trước khi còn chưa vạch quẻ, Thái cực chỉ là cái nghĩa một bầu hỗn độn, ở trong bao hàm các thứ, Âm, Dương, mềm cứng, lẻ, chẵn, không gì không có.

Tới khi vạch ra một lẻ, một chẵn, ấy là sinh ra hai Nghi, rồi trên vạch lẻ, vạch thêm một vạch lẻ, đó là Dương ở trong Dương, trên vạch lẻ vạch thêm một vạch chẵn, đó là Âm ở trong Dương, trên vạch chẵn vạch thêm một vạch lẻ, đó là Dương ở trong Âm, trên vạch chẵn vạch thêm một vạch chẵn, đó là Âm ở trong Âm, ấy là bốn Tượng.

Trên một Tượng có hai quái, mỗi Tượng lại thêm một lẻ, một chẵn, thành ra tám quẻ.Một vạch là Nghi, hai vạch là Tượng, ba vạch là quẻ, bốn Tượng như Xuân, Hạ, Thu, Đông; Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Đông, Tây, Nam, Bắc, không gì không thể suy ra.Trời đất định ngôi, núi chầm thông khí, sấm gió xát nhau, nước lửa không phạm nhau, tám quái mài nhau.Kể cái đi rồi là thuận, biết cái sắp tới là nghịch.Kiền nam, khôn bắc, Ly đông, Khảm tây, Chấn đông bắc, Đoài đông nam, Tốn tây nam, Cấn tây bắc: Từ Chấn đền Kiền là thuận, từ Tốn đến Khôn là nghịch.

Tiên Thiên  - Hậu Thiên Bát Quái

https://i.imgur.com/h9zCk0N.jpg