nguyentiendunghp

LỊCH SỬ CỦA PHAO TIÊU HÀNG HẢI

Đăng 6 ngày trước
LỊCH SỬ CỦA PHAO TIÊU HÀNG HẢI

Ngay từ khi ngành Hàng hải ra đời, các nhà hàng hải thực hiện các chuyến hải trình đã phải nhờ đến sự trợ giúp của các thiết bị hàng hải, có thể là tín hiệu từ các ngọn đèn hải đăng, các phao tiêu, các đèn báo và các trợ giúp hàng hải khác để đi đến các cảng biển một cách an toàn.

Lịch sử ghi nhận, đã có nhiều nhà sử học, nhiều nhà nghiên cứu đã dày công tìm hiểu cấu trúc của ngọn Hải đăng Ai Cập cổ đại Pharos và cấu trúc hiện đại hơn của hệ thống Eddystone Line ngoài khơi bờ biển nước Anh. Tuy nhiên, vai trò của các thiết bị hàng hải nhỏ bé hơn cũng không thể bỏ qua, cho dù chỉ là một ánh đèn được phát ra từ một phao tiêu bé nhỏ nhằm phòng chống đâm va hàng hải. Một số phao tiêu Hàng hải xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ thứ 13, trong đó, phao tiêu hàng hải đầu tiên được xác nhận có trong cuốn “La Compasso de Navigare”(tài liệu hướng dẫn Hàng hải xuất bản năm 1926). Vị trí của phao tiêu này được xác định ở trên dòng sông Guadalquivir, dòng sông Guadalquivir, có vai trò trợ giúp cho các nhà hàng hải tiếp cận đến Sevilla, Tây Ba Nha.

Những phao tiêu hàng hải đầu tiên ở các vùng phía Bắc Châu Âu được ghi nhận đã xuất hiện ở dòng sông Ville. Chúng có vai trò dẫn luồng tới các Trung tâm Thương mại là Amsterdam và Kampen. Tại các nước thuộc địa, các phao tiêu hàng hải ít được ghi chép lại trong các danh mục các thiết bị hàng hải cần quản lý, ngoại lệ có phao tiêu ở sông Delaware được ghi chép năm 1767 và phao tiêu ở cảng Boston được ghi chép năm 1780. Ở thời đó, người ta đặt ra “Lệ phí ánh sáng” dành cho các nhà hàng hải và các thương gia. Lệ phí này do các cảng đặt ra nhằm mục đích bảo quản các phao tiêu cách đây 200 năm trước khi Chính phủ các nước bắt đầu bảo trì các phao này.

Loại phao thùng được tìm thấy ở Bắc Âu từ đầu thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 18

Năm 1514, Vua Henry VIII nước Anh đã ban hành một Điều lệ nhằm thành lập một Ban Hàng hải có tên là Trinity House, trước những kiến nghị của Hiệp hội Hàng hải Anh quốc. Những kiến nghị cho rằng, việc thiếu kinh nghiệm hàng hải của các tàu thuyền nước ngoài khi ra, vào cảng của Anh quốc sẽ gây nguy hiểm cho các tàu thuyền nước sở tại. Đến năm 1594, Nữ hoàng Elizabeth 1 trao quyền thiết lập hệ thống các phao tiêu và đèn báo cho Trinity House.

Loại thuyền nhỏ được sử dụng ở thế kỷ 19 để bảo quản các phao tiêu

Thời kỳ này, các phao tiêu hàng hải hầu hết được làm bằng gỗ. Trụ phao được làm bằng cây tuyết tùng hoặc cây bách xù với thân phao là các phao thùng có thể giúp phao nổi trên mặt nước. Các phao tiêu này hầu hết có cấu tạo là các thùng gỗ rỗng với đai sắt quấn quanh và được neo bởi các dây xích cùng các phiến đá lớn.  Tất cả hệ thống phao tiêu này đều không có quy chuẩn về màu sắc, hình dáng và kích thước và chúng khá đa dạng từ cảng này đến cảng kia. Tuy nhiên, chính điều này đã trở thành một thiếu xót trong ngành Hàng hải, có những phao tiêu có kích cỡ quá bé gây khó khăn cho tầm quan sát của các nhà hàng hải, nhất là khi chúng bị chìm dưới mặt nước và điều này là một mối nguy hiểm đối với những người ít kinh nghiệm đi biển.

Sau khi giành được độc lập, chính phủ liên bang Mỹ đã nhanh chóng phát triển hệ thống các ngọn đèn hải đăng, phao tiêu hàng hải, đèn báo hàng hải và các đê công cộng. Đến năm 1848, một Hội nghị họp tại Mỹ đã lập ra các quy định chặt chẽ mang tính toàn quốc về việc đặt phao với vị trí, số lượng, màu sắc, hình dáng một cách hợp lý nhất. Năm 1852, Ban Hải đăng Hoa kỳ được thành lập, có tên là The US Lighthouse Board, có trách nhiệm xây dựng và bảo quản tất cả các ngọn hải đăng, các phao tiêu, các đèn báo hàng hải tại Mỹ. Ban Hải đăng Hoa kỳ đã tích cực học hỏi kinh nghiệm từ cách đặt phao của người Châu Âu để phát triển hệ thống phao tiêu hàng hải ở Mỹ một cách khoa học và vững chắc. Những phao mép luồng được thiết lập theo Quy tắc, khi ra luồng, phao màu đỏ nằm bên trái và phao màu đen nằm bên phải (nước Mỹ áp dụng hệ thống B). Hệ thống thả phao này vẫn được áp dụng đến ngày nay ở tất cả các nước, ngoại trừ thay màu sắc phao đen bằng phao có màu xanh lá cây. Bởi một nghiên cứu năm 1970 chỉ ra rằng, màu xanh lá cây có thể quan sát rõ hơn khi ở khoảng cách xa hơn so với màu đen. Ban Hải đăng phân loại hệ thống phao thành 3 loại. Phao tiêu loại 1 chủ yếu lắp đặt ở luồng ra, vào các cảng biển hoặc những vùng nước cần có phao nổi lớn cho tầm quan sát của tàu thuyền. Phao tiêu loại 2 lắp đặt trên các dòng sông nhỏ hơn hoặc những nơi cần chỉ dẫn cho tàu thuyền ra, vào các bến cảng nhỏ. Phao tiêu loại 3, phao tiêu loại nhỏ nhất, đánh dấu các khu vực nơi mà các loại tàu lớn không thể đi được. Ngoài ra, Ban Hải đăng còn áp dụng chính sách chiêu mộ những nhà khoa học, điển hình có Giáo sư Joshep Henry, người đã chủ động áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật để cải tiến các phao tiêu bằng việc thử nghiệm âm thanh và ánh sáng trên các phao.

NHỮNG PHAO CHUYÊN DỤNG

Vào năm 1851, Charles Babbage ở Luân Đôn (nước Anh) đã đưa ra ý tưởng về việc lắp đặt các ngòn đèn trên các phao tiêu. Tuy nhiên, 20 năm sau đó, với sự phát triển của công nghệ, người ta mới có thể chế tạo ra một chiếc phao đèn thực sự tại nước Mỹ. Các nhà sáng chế đã thiết kế các đèn dầu hơi trên các phao tương tự như thiết bị được sử dụng trên các ngọn đèn hải đăng. Bên cạnh đó, xuất hiện một số thiết kế phức tạp hơn được cấp bằng sáng chế bằng việc có sử dụng một bộ cảm biến, khi có một con tàu lại gần chiếc phao, bộ cảm biến hoạt động và làm cho đèn sáng bằng một luồng lửa được kích hoạt.

Những chiếc đèn dầu hơi được dùng để lắp trên đỉnh các phao

Chiếc phao điện đầu tiên được thử nghiệm bằng việc lắp một đèn chụp tựa như chiếc đèn lồng phía trên đỉnh của phao. Những phao này được triển khai năm 1888 ở kênh Gedney, kênh vào luồng cảng New York. Những phao này được thắp sáng khi sử dụng điện năng với một dây cáp được nối từ phao này đến máy phát điện đặt tại Sandy Hook. Tuy nhiên, chúng được loại bỏ vào năm 1903. Một số phao đèn được thiết kế có sử dụng khí nén Acetylen để thắp sáng các bộ phận đèn chụp phía trên đỉnh. Nhưng vấn đề xảy ra là việc chiếc đèn sẽ bị dập tắt mỗi khi có biển động. Và để sử dụng chúng hiệu quả, những chiếc phao loại này phải mất nhiều năm thử nghiệm và cải tiến. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, người ta đã sử dụng pin và năng lượng mặt trời để các đèn hoạt động được lâu dài, kể cả trong điều kiện thời tiết xấu. Như loại phao tiêu RBM 22/30 đạt tiêu chuẩn của IALA (International Association of Lighthouse of Authorities-Hiệp hội quản lý hải đăng quốc tế) có dung lượng pin  đạt tới 200Ah.

Bên cạnh những chiếc phao đèn, còn xuất hiện những chiếc phao còi, với âm thanh phát ra, chúng có thể đưa ra sự cảnh báo đối với người đi biển, đặc biệt khi tàu hành trình khi bị giảm tầm nhìn bởi sương mù. Chiếc phao còi đầu tiên có tên The Brown’s Bell (Tiếng chuông của Brown), được thiết kế bởi thuyền trưởng Revenue Marine vào năm 1850. Nó có cấu trúc đơn giản với phần trên cùng là một chiếc chuông đánh nhịp bốn tiếng. Tuy nhiên, thành công nhất trong việc phát triển phao còi, phải nhắc đến J.M. Courtenay. Ông đã chế tạo khi còn làm việc cho công ty Đông Ấn của Anh và mang theo khi di cư sang Mỹ.

Bộ phận chuông của phao còi The Brown’s Bell

Chiếc phao của Courtenay hoạt động dựa trên nguyên lý là, dưới áp suất nhất định, không khí sẽ thoát ra theo một ống dẫn đến một chiếc còi. Sau khi kiểm tra, Ban Hải đăng Mỹ đã chấp nhận chiếc phao còi của Courtenay được sử dụng ở tất cả mọi nơi dùng cho việc dẫn đường hàng hải. Và khi ngành Hàng hải phát triển, tàu chạy bằng hơi nước dần thay thế các tàu thuyền buồm, với kích thước lớn hơn, vận tốc lớn hơn thì công tác bảo đảm an toàn hàng hải càng được chú trọng, nhất là với việc vận chuyển hành khách và hàng hóa. Vì vậy, những chiếc phao sử dụng đèn chiếu sáng và còi càng có vai trò quan trọng đến quá trình ra, vào luồng các cảng biển.

Phao tiêu hàng hải là một trong nhiều thiết bị trợ giúp hàng hải khác như hải đăng, trụ đèn, trụ tiêu, tiêu nổi…, chúng được gọi chung là tiêu hàng hải. Lịch sử tồn tại của các tiêu hàng hải trên khắp thế giới có từ hàng trăm năm nhưng không thống nhất đã gây ra nhiều bất tiện cho các phương tiện ngày càng qua lại nhiều trên biển. Sau khi Hiệp hội Quốc tế các tổ chức quản lý hải đăng (IALA) thành lập năm 1957, Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế do Hiệp hội thành lập đã bắt tay nghiên cứu một chế độ thống nhất các tiêu hàng hải. Năm 1971, IALA đã chia hệ thống tiêu hàng hải ra thành hai hệ thống A và B. Năm 1977, hệ thống tiêu hàng hải A đã được IMCO (nay là IMO) thông qua. Đến nay, nhiều quốc gia ở Châu Âu, Châu Phi, Châu đại dương, Chấu Á, trong đó có Việt Nam đang áp dụng tiêu hàng hải theo hệ thống A. Năm 1980, hội nghị lần thứ 10 về tiêu trợ hàng quốc tế được triệu tập tại Tokyo đã thống nhất áp dụng các quy tắc tổng hợp, phân chia ranh giới các chế độ tiêu trợ hàng trên khắp thế giới. Hệ thống A này được chuẩn hóa năm 1985. Hệ thống B được chuẩn hóa năm 1987. Hệ thống A và B sử dụng các loại phao có chức năng chỉ báo như nhau, chỉ khác biệt về màu sắc, ánh đèn. Ở Việt Nam, các hệ thống tiêu hàng hải đang được quản lý và phát triển bởi Tổng công ty bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc và miền Nam, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải.

Chủ đề chính: #lịch_sử

Bình luận về bài viết này
0 bình luận

Đang tải bình luận...


Đang tải nội dung cho bạn