Nghiên cứu mới nhất cho thấy trẻ nhỏ suy nghĩ logic hơn chúng ta nghĩ

Một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí Khoa học (Science) đã tiết lộ rằng một đứa trẻ 12 tháng tuổi đã có khả năng lý luận tam đoạn luận.

Tiến sĩ – Bác sĩ nhi khoa được nhiều người quý mến Berry Brazelton vừa mới qua đời vào năm ngoái ở tuổi 99. Ông đã làm nên tên tuổi của mình với lập luận cho rằng trẻ con không phải là “những khối đất sét”. Lập luận này là quan điểm phổ biến khi ông bước chân vào lĩnh vực y tế trong những năm 1940, nhưng hơn thế nữa, trẻ em còn là những sinh vật biểu cảm phức tạp có hành vi có mục đích và đầy ý nghĩa.

Đã qua nhiều thập kỷ kể từ lần đầu tiên Brazelton thực hiện thí nghiệm về tính có mục đích trong trí não của trẻ nhỏ, nghiên cứu về sự nhận thức của trẻ nhỏ đã chứng minh rằng sự nhận thức của chúng còn phức tạp hơn những gì vị bác sĩ này tưởng tượng. Một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí Khoa học (Science) đã tiết lộ rằng một đứa trẻ 12 tháng tuổi đã có khả năng lý luận tam đoạn luận. 

Cesana-Arlotti và các cộng sự đã tiến hành một loạt các thí nghiệm để tìm hiểu, khám phá quá trình lập luận bên trong các nỗ lực không ngừng nghỉ của những đứa trẻ ở độ chưa nói được. Những nỗ lực này giúp cho trẻ con hiểu cách thế giới xung quanh nó vận hành như thế nào. Bắt đầu với tiền đề: những đứa trẻ có khả năng phát triển, thử nghiệm, đưa ra các giả thuyết về những sự kiện không chắc chắn trong tương lai, các nhà nghiên cứu tìm cách mô tả đặc điểm của “sự hình dung logic cơ bản” (the “basic logical representation”) và kết quả đã chỉ ra thực tế rằng, trẻ nhỏ không hoàn toàn phát triển kỹ năng ngôn ngữ, thứ mà chúng ta thường cho rằng là điều kiện tiên quyết để hình thành suy nghĩ logic.

,trẻ em,suy nghĩ logic,nghiên cứu,khả năng lý luận,tâm lý học Ảnh minh họa (Nguồn: MomJunction)

Để nhận biết khuôn mẫu mà dựa trên đó những lý lẽ được trẻ nhỏ được xây dựng, các nhà nghiên cứu tập trung vào “một nguyên tắc và sự hình dung logic cơ bản, đó là: sự phân biệt (A hoặc B) và tam đoạn luận (không phải là A, vì thế là B)”. Nói cách khác, họ thiết kế những thí nghiệm để quan sát liệu trẻ nhỏ có khả năng lập luận thông qua quá trình loại trừ hay không. 

Trong thí nghiệm này, những đứa trẻ từ 12 đến 19 tháng tuổi sẽ được cho xem những họa tiết vi tính về hai vật thể khác nhau, ví dụ như một con khủng long và một bông hoa. Những vật thể này xuất hiện sau một tấm màn. Khi các vật thể bị che khuất khỏi tầm mắt, một chiếc cốc sẽ được đưa vào bức hình và múc một trong hai vật thể sau tấm màn lên. Tuy nhiên, phần thấy được của vật thể do chiếc cốc múc ra chỉ là phần đỉnh của vật thể, và phần đỉnh này thì giống với phần đỉnh của vật thể còn lại sau tấm màn. Sau đó, tấm màn sẽ được hạ xuống, và vật thể không được chiếc cốc lấy ra sẽ lộ diện. Cuối cùng, vật thể trong chiếc cốc cũng sẽ xuất hiện. Vật thể này có thể là một trong hai vật thể ban đầu (giống như sự mong đợi), hoặc là một vật thể khác tương tự như vật thể ban đầu (trái với sự kỳ vọng). Ví dụ như trong thí nghiệm khủng long và bông hoa, nếu khủng long là vật thể phía sau tấm màn, thì vật thể trong chiếc cốc sẽ là bông hoa lúc đầu hoặc một bản sao gây bất ngờ của bông hoa sẽ xuất hiện.

Tầm nhìn của những đứa trẻ sẽ bị thu hút vào thứ mà chúng thấy hấp dẫn nhất trong bất kỳ khoảnh khắc nào. Lượng thời gian mà chúng dành để nhìn những vật thể khác nhau được đo lường để xác định liệu kết quả bất ngờ có ảnh hưởng đến mức độ quan tâm của trẻ không. Như giả thuyết đã được đưa ra, những đứa trẻ nhìn chằm chằm vào kết quả bất ngờ lâu hơn nhìn vào kết quả mong đợi. Điều này chỉ ra rằng những đứa trẻ ý thức được kết quả đáng lẽ phải có, dựa theo tam đoạn luận “không là A, vì thế là B”. 

Thí nghiệm này là một bài kiểm tra việc những đứa trẻ sẽ đưa ra suy luận tại những giai đoạn thích hợp qua những hình minh họa, hay là chúng chỉ phản ứng khi nhận được kết quả trái với sự kỳ vọng. Các nhà nghiên cứu tiến hành phân tích những phản ứng của mắt vào giai đoạn suy luận được đưa ra. Đáng ngạc nhiên, con ngươi trong mắt những đứa trẻ đã giãn ra nhiều hơn trong tình huống cần đến sự suy luận so với lúc không có yếu tố đặc biệt xảy ra, từ đó có thể nhận thấy rằng hoạt động nhận thức có chiều hướng tăng lên trong những giai đoạn này.

Mặc dù việc lập luận thông qua quá trình loại trừ chỉ là một hình thức logic đơn giản, nhiều tác giả của các tạp chí đã chỉ ra rằng đây là hình thức lập luận rất được bậc thầy logic Sherlock Holmes yêu thích. Khi đứng trước một vụ án, nhân vật này sẽ phân tích những khả năng khác nhau, loại trừ những khả năng không hợp lý cho tới khi tìm thấy hung thủ. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy loại lý luận logic làm chúng ta kinh ngạc trong Sherlock Holmes thực ra không phải là một khả năng hiếm có, hoặc phải đấu tranh để có được mà là khả năng bẩm sinh và có phổ biến, và các cấu trúc logic bền vững và dựa vào trực giác liên quan đến việc giải thích hoàn cảnh có tiềm năng có thể là những phần thiết yếu trong kết cấu của trí não. 

Theo Tiến sĩ Hal McDonald - PsychologyToday