Phật dạy về 'Lời vừa thật lại vừa hay'

'Lời vừa thật lại vừa hay' có thể là lạ lẫm nhưng 'Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật' hẳn ai cũng biết. Đây là câu nói được Lão Tử ghi lại trong cuốn 'Đạo đức kinh' và được chúng ta coi là châm ngôn xử thế. Mặc dù đã ăn sâu vào cuộc sống nhưng do cách hiểu khác nhau lại có thể khiến chúng ta hiểu nhầm mà làm hỏng đi kinh nghiệm quý báu của người xưa.

1. Nguyên do "Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật"

1. Nguyên do "Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật", Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật (Nguồn: dkn.tv)

Câu "Lời hay thì không thật, lời thật thì không hay" vô tình tạo ra hai thái cực trong việc xem xét lời nói. Hai thái cực đối lập này là "Hay" và "Thật". Càng tiến về "Hay" thì mức độ chân "Thật" lại giảm đi, cực điểm của nó là lời nói "Không thật". Càng tiến về "Thật" thì mức độ "Hay" lại giảm đi, cực điểm của nó là lời nói "Không hay". Sự chuyển biến qua lại này tạo ra cảm giác về sự khép kín của một vòng tròn biến đổi.

Vòng tròn này là sự biến đổi từ "Lời thật" được biểu hiện là "Không hay" do tác động của từ ngữ được sử dụng trong câu "Lời thật thì không hay". Rồi ẩn đi quá trình từ "Không hay" chuyển hóa thành "Hay" do kết quả của việc để tâm tới cảm nhận của người nghe về lời được nói ra. Rồi sau đó từ "Hay" chuyển hóa thành "Không thật" do quá chú tâm vào cảm nhận của người nghe mà gây ra sự khác biệt giữa lời nói và thông tin về đối tượng cần truyền đạt trong câu "Lời hay thì không thật". Và lại ẩn đi quá trình từ "Không thật" chuyển hóa thành "Thật" do sự chú tâm vào việc truyền tải thông tin để lặp lại câu "Lời thật thì không hay" mà tiếp nối sự tuần hoàn.

Như sự gắn liền giữa nội dung và hình thức của lời nói, "Thật" và ""Không hay" cũng như "Hay" và "Không thật" được gắn kèm với nhau mà thành "Thật, Không hay" và "Hay, Không thật". "Thật" và "Không thật" là hai thái cực đối lập thể hiện sự biến đổi qua lại đối với mức độ thông tin về sự việc được nói ra. Còn "Hay" và "Không hay" lại là hai thái cực đối lập thể hiện sự biến đổi qua lại về mức độ cảm nhận đối với lời được lựa chọn để nói ra.

Dụng tâm làm cho thông tin nguyên bản bị biến đổi theo mục đích của người nói. Càng dụng tâm nhiều thì lại càng xa rời nguyên bản và càng tiến lại gần tới mục đích của người ta. Khi mục đích và đối tượng nguyên bản không có mối liên quan nào thì lời nói ra trở thành không thật, là lời nói dối. Lời hay thì không thật là vì lời được dụng tâm theo một mục đích khác với lời nói.

Mặt khác, khi không có mục đích thì thông tin trong lời nói không bị cố tình làm biến đổi mà giữ được nguyên bản. Cũng vì không có mục đích nên sẽ không dụng tâm trong việc lựa chọn từ ngữ để sử dụng kéo theo đó là những tác dụng của lời nói cũng như phản ứng của người nghe đều không được chú ý. Đối tượng được truyền tải trong lời nói lúc này chỉ là những thông tin thô sơ. Lời thật thì không hay vì là lời vô tâm không xen mục đích của người nói vào trong đó.

Như trục tung và trục hoành có chiều khác nhau, việc gắn liền "Thật, Không hay" và "Hay, Không thật" khiến cho chúng ta vô tình đồng nhất hai quá trình biến đổi theo hai chiều khác nhau. Đó là quá trình biến đổi qua lại giữa hai cực "Thật" và "Không thật" với "Hay" và ""Không hay". Trong đó, cực "Thật" trùng với cực "Không hay" và cực "Hay" trùng với cực "Không thật". Do cùng chung biểu hiện là việc bỏ công sức lại có thể khiến cho chúng ta tưởng rằng hai kết quả của hai hướng riêng biệt đó là cùng của một quá trình. Giống như từ nước đầu nguồn chia ra các nhánh chảy sông, suối khác nhau nhưng khi tìm hiểu từ các nhánh sông suối đó ngược về đầu nguồn ta lại cho rằng nước ở các nhánh đó chảy qua lại với nhau

"Thật" và "Không hay", "Hay" và "Không thật" thực ra lại ở hai nhánh quan hệ khác nhau nhưng có cùng một tác nhân gây ra sự biến đổi đó là công sức được bỏ ra theo dụng tâm của người nói. Một nhánh quan hệ có hai cực đối lập là "Thật, Không thật", một nhánh có hai cực đối lập là "Hay, Không hay".

Cùng là dụng tâm mà bỏ ra công sức nhưng theo mục đích thì là để biến đổi thông tin của sự việc, theo lời nói thì là để biến đổi cảm nhận của người nghe. Cùng là bỏ công sức nhưng kết quả lại phát triển theo hai hướng khác nhau. Chính vì có cùng biểu hiện là việc bỏ ra công sức khiến cho những nỗ lực làm cho lời nói trở lên hay hơn bị đồng nhất và gắn liền với việc cố tình làm biến đổi nguyên bản sự thật. Điều này vô tình gắn mác cho việc dụng tâm là có ý đồ và vì cho rằng có ý đồ mà sinh ra ác cảm không tốt đối với việc dụng tâm của người ta. Như thế thì thật là oan uổng và phí hoài cho bao công sức của người ta.

2. Sự hiểu lầm trong dân gian và "Lời vừa không thật lại vừa không hay"

2. Sự hiểu lầm trong dân gian và "Lời vừa không thật lại vừa không hay", Thô nhưng thật hóa ra chính là vừa không thật lại vừa không hay (Nguồn: vi.pngtree.com)

 "Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật" được ghi trong cuốn "Đạo đức kinh", những bậc hiểu biết ngày xưa ai cũng biết. Nhưng những lời họ nói ra đâu có giống như chúng ta, vừa thô vừa gây ra ác cảm mà phải nhận lấy những hậu quả không hay. Người ta nói những lời thật nhưng lại vô cùng thâm thúy, sâu sắc gợi mở biết bao điều mà khiến người nghe sinh lòng kính phục. Còn chúng ta lại cho sự thô sơ trong hiểu biết của mình là sự thật để rồi nói ra những lời mắt thấy, tai nghe nhưng lại chẳng chứa đựng tí đạo lý nào trong đó. Có thể do chưa hiểu rõ mà chúng ta làm cho câu nói của một trí tuệ uyên thâm trở thành cái cớ cho sự tùy tiện và những lỗi lầm của mình. Đó là sự hời hợt trong việc nhìn nhận sự việc và lời ăn tiếng nói của bản thân. Trong cuộc sống hàng ngày, với quan niệm của chúng ta, câu nói trên vô tình là cơ sở bào chữa cho sự vô tâm với người nghe và vô trách nhiệm với lời nói của mình.

Sự vô tâm đối với người nghe

Không để ý tới những hậu quả không hay đối với người khác

Hậu quả xấu của lời nói có thể là do bản thân sự thật gây ra. Ở đây muốn nói tới những thông tin mà khi bị tiết lộ sẽ gây hại cho người nghe, hoặc những người có liên quan. Đây có thể là biểu hiện của sự vô tâm của người nói đối với người nghe khi không để tâm tới những tác động không hay có thể gây ra cho người ta. Chẳng hạn, những thông tin về bí mật kinh doanh, về sức khỏe,về những mối quan hệ hoặc những dự định nào đó. Tuy hậu quả xấu của lời nói thật không phải lúc nào cũng xảy ra nhưng khi xảy ra người ta có thể cũng không biết mình đã gây hại như thế nào.

Sự vô tâm thường hay chuyển thành vô trách nhiệm khi được viện cớ kiểu dạng "đó là sự thật" để bào chữa cho mọi hậu quả gây ra bởi lời nói của mình. Nhiều khi câu "Tôi có nói gì sai đâu" hay "Điều tôi nói sự thật mà" lại làm cho người bị hại và những người liên quan đứng hình mà sôi máu. Lúc này, đó chỉ là lời bào chữa của kẻ vô tri. Lời thật nhưng vô tâm đôi khi còn gây họa hơn cả ác ý. Người ta có câu: "Thật khó phân định ai là người sẽ hại bạn nhiều nhất: kẻ thù vô cùng ác ý hay bạn bè cực thiện chí". (tudiendanhngon)

Cố tình đẩy người khác vào tình cảnh không hay

Cũng có những lời vô tâm được gắn mác sự thật để nói ra khi đã biết là không tốt cho người nghe. Nó thường được rào trước đón sau kiểu dạng "thô nhưng thật" để chối bỏ tất cả trách nhiệm về những thương tổn gây ra cho người khác. Lúc này, tuy là lời không hay nhưng lại không phải là lời vô tâm mà là lời có dụng tâm hại người. Dụng tâm của người ta lúc này lại là làm sao để hại người mà không ai hay, ai biết hoặc cho dù có biết cũng chẳng thể nào lên án người ta. Dụng tâm này còn sâu xa hơn cả lời nói dối vì có tận hai lớp.

Lúc này, lời không hay chính là biểu hiện của sự nhẫn tâm khi biết mà vẫn đẩy người khác vào tình cảnh tồi tệ bằng lời nói của mình. Ví như "Đổ dầu vào lửa","Tát nước theo mưa", "Mượn dao giết người",...  Những lời "thô nhưng thật"và những thông tin "là sự thật" này chính là lời thật nhưng là thật sự ác (thật ác), là sự thật nhưng là thật sự có hại.

Sự vô trách nhiệm đối với lời nói

Sự thật là điều ai cũng muốn biết nhưng lời không hay thì không phải ai cũng thích nghe. Không dụng tâm làm lời thật trở thành không hay mà đã không hay thì mấy khi được tốt. "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng", đôi khi lợi ích mà lời nói thật đem lại còn không bù đắp nổi những mất mát mà nó gây ra. Nhiều lúc chỉ đến khi tình cảnh không hay xảy ra thì người ta mới ngẫm lại sự vô trách nhiệm của mình trong lời nói.

, Đám đông vui nhộn thỉnh thoảng lại xảy ra chuyện không hay (Nguồn: baomoi.com)

"Lời ngọt lọt tới xương", ai chả thích lời nói dịu dàng, dễ nghe, lời không hay ai chả ghét. Cùng cất lên tiếng kêu nhưng chim Khách được người ta yêu thích mà chiêu đãi thức ăn còn Quạ thì bị người ta căm ghét mà xua đuổi, phản ứng của mọi người còn phụ thuộc vào lời được nói ra và thái độ của người ta nữa. Cũng chỉ vì "Ghét cái thái độ" mà bao đám đông vui nhộn thỉnh thoảng lại xảy ra chuyện không hay. Sự vô trách nhiệm thể hiện ở chỗ không quan tâm tới lời nói ra bị người ta đánh giá ra sao và có phản ứng thế nào.

Đừng tưởng những chuyện không hay này là ngẫu nhiên. Bởi vì nguồn cơn của nó là sự tùy tiện, nói cho sướng miệng của những người vô tri. Đều bắt nguồn từ việc không để tâm tới lời nói của mình. Không phải ai cũng vô trách nhiệm nhưng những người không để tâm thì thường tạo ra mầm tai họa bằng lời được nói ngay trong lúc chuyện trò.

Sự tai hại do vô trách nhiệm với lời nói lại thường đến một cách đột ngột vào những lúc chẳng ai ngờ. Sự tùy tiện, bạ đâu nói đấy khiến cho lời nói được tạo lên bằng những từ ngữ không hay, được nói ra với thái độ không tốt khiến cho câu nói trở lên khó nghe, khó được chấp nhận. Nó bắt nguồn ở chỗ không quan tâm tới việc lời nói ra có hợp với hoàn cảnh,tâm trạng của người nghe hay không. Và cả mối quan hệ giữa hai người nữa. Người ta có câu "Yêu nên tốt, ghét nên xấu", đôi khi sự tai hại xảy ra chẳng liên quan gì tới lời nói cả nhưng lờinói ra lại bị mang tiếng oan vì chỉ là cái cớ để người khác "Giận cá chém thớt" mà thôi.  Quan niệm về "thô nhưng thật" của chúng ta lại là việc vừa không dụng tâm vào sự thật lại vừa không dụng tâm lời nói. Kết quả của nó khiến cho câu "Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật" chỉ còn lại một nửa là không hay, không thật. Việc hiểu lầm khiến cho lời hàng ngày chúng ta vẫn thường nói lại là "Lời vừa không thật lại vừa không hay".

3. Lời nói khi được dụng tâm

Dụng tâm vào sự thật

Muốn nói thật phải hiểu rõ về điều muốn nói

, Thu Phuc Hắc Hùng Tinh (Nguồn: Tây Du Ký Tập 06)

Trong "Tây du ký", có lần Tôn Ngộ Không cầu cứu Bồ Tát Quán Thế Âm thu phục Hắc Hùng tinh giúp mình. Bồ Tát hóa thành Xà tinh còn Tôn Ngộ Không hóa thành viên linh đan. Với những gì tận mắt nhìn thấy, Hắc Hùng tinh đã lầm tưởng Bồ Tát là ông bạn Xà tinh của mình mà mắc mưu.Trong "Tây du ký", có lần Tôn Ngộ Không cầu cứu Bồ Tát Quán Thế Âm thu phục Hắc Hùng tinh giúp mình. Bồ Tát hóa thành Xà tinh còn Tôn Ngộ Không hóa thành viên linh đan. Với những gì tận mắt nhìn thấy, Hắc Hùng tinh đã lầm tưởng Bồ Tát là ông bạn Xà tinh của mình mà mắc mưu.Trong "Tây du ký", có lần Tôn Ngộ Không cầu cứu Bồ Tát Quán Thế Âm thu phục Hắc Hùng tinh giúp mình. Bồ Tát hóa thành Xà tinh còn Tôn Ngộ Không hóa thành viên linh đan. Với những gì tận mắt nhìn thấy, Hắc Hùng tinh đã lầm tưởng Bồ Tát là ông bạn Xà tinh của mình mà mắc mưu.

Sự việc không chỉ đơn thuần là những gì nhìn thấy. Cũngnhư Hắc Hùng tinh không biết được sự biến hóa của Bồ Tát mà chỉ thấy hình ảnh Xà tinh, những gì tận mắt nhìn thấy chỉ là một lát cắt của sự việc trongmột khoảng thời gian nhất định mà thôi. Ngoài lát cắt đó ra, sự việc còn có một quá trình trước và sau đó nữa. Cũng như ẩn trong hình ảnh Xà tinh là Bồ Tát Quán Thế Âm, sự việc còn có những nguyên nhân sâu xa chưa được biết tới.

Để lời nói ra là thật thì phải biết cả quá trình và nguyên nhân của sự việc. Điều này không phải dễ.Phải bỏ ra công sức và thời gian để suy nghĩ, quan sát. Cũng giống như hiện tượng ngày và đêm, hiện tượng mặt trời mọc và lặn phải trải qua hàng ngàn năm văn minh với bao khám phá của biết bao người mới biết đượcsự thật là do Trái Đất tự quanh quanh mình và xung quanh Mặt Trời gây ra.

Dụng tâm vào sự thật thì lời nói sẽ rất sâu sắc

 "Lời thật thì không hay" là sự nguyên sơ của đối tượng với lượng thông tin ít ỏi có thể ví như những mẫu quặng thô ráp chưa qua xử lý. Sự nguyên sơ này như là một tờ giấy trắng với kiến thức của một em bé mới sinh về thế giới bên ngoài. Khi không có kiến thức thì lời nói sẽ ngô nghê, đúng sai còn chưa có cơ sở để phân biệt, hình thành.

Người ta thường khuyên "Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ" nhưng thực ra những gì trẻ nhỏ nhìn thấy, nghe thấy đôi khi lại không phải là sự thực của cuộc sống.Cũng như lời của chú bé Đản trong truyện "Người con gái Nam Xương", một người không có kiến thức thì không đủ khả năng để có thể nói đúng sự thật về những gì nhìn thấy, nghe được.

Lời thật đơn sơ có thể thốt ra là kết quả của việc lọc mà loại bỏ đi những nội dung mà mình không biết. Cũng giống việc đãi cát tìm vàng vậy, nội dung lời nói là kết quả sàng lọc thông tin để lựa chọn điều mình biết mà sử dụng.

, Một nửa sự thật không còn là sự thật nữa (Nguồn: flickr.com)

Có câu "Một nửa sự thật không còn là sự thật nữa", để lời nói ra là thật thì phải biết cả quá trình và nguyên nhân của sự việc. Không biết quá trình thì lời nói về những gì nhìn thấy, nghe được chưa chắc đã còn đúng khi nói ra bởi vì chênh lệch thời gian làm cho sự việc đã biến đổi. Không biết được nguyên nhân sẽ không biết được sự việc hình thành như thế nào và sẽ biến đổi ra sao. Lúc này lời nói ra lại là nói về điều mình không biết.

"Không ai tắm hai lần trên một dòng sông", lúc này lời thật được nói ra là sự thật của hiện tại chứ không còn là thông tin lạc hậu về một sự việc diễn ra trước đó nữa. Cũng giống như có rất nhiều khả năng nhưng chỉ có một vài điều trở thành hiện thực. Lời thật này bắt nguồn từ kiến thức mà có tầm nhìn để có thể nói được đúng như sự việc diễn ra và xóa đi được sự mơ hồ, nghi ngại. Cũng giống như việc tinh luyện vậy, những quy trình công nghệ khác nhau cho ra những sản phẩm khác nhau ví như vàng 99,9% và vàng 99,99%. Cũng giống như từng nhát búa của người thợ rèn lên thanh sắt nóng hổi, từng nhát, từng nhát làm bong ra những thứ không phù hợp. Mỗi lần tôi luyện là chất lượng lại tăng lên. Từng từ, từng từ không phù hợp hoặc không chính xác dần bị loại bỏ theo thời gian mà làm cho lời nói ngày càng súc tích. Hiểu biết càng cao, càng sâu thì biểu hiện của kiến thức là từ ngữ lại càng phong phú, lời nói về sự việc lại càng logic kéo theo đó là việc kết nối từ ngữ để sử dụng càng chuẩn xác và linh hoạt. Lời nói đơn sơ qua hiểu biết chân thật thì chất lượng ngày càng tăng lên, càng đầy đủ, đơn giản, không dư thừa do nghi ngờ, mê hoặc.

Cũng giống như ngày xưa các hiện tượng thiên nhiên luôn bao trùm sự huyền bí nhưng ngày nay con người ta đã có thể biết được nguyên nhân sâu xa của nó. Các chứng bệnh nan y ngày xưa luôn được nhắc đến bởi những lời lẽ gợi đến kết cục không hay còn ngày nay cũng là một số dấu hiệu đó nhưng các bác sĩ lại có thể xóa tan nỗi sợ hãi của bệnh nhân và trấn an họ bằng những lời lẽ chân tình. Với những thành tựu của sự phát triển,con người ta có thể lý giải được rõ ràng và sâu xa hơn mà có những giải pháp hiệu quả cho việc xây dựng cuộc sống. Khi thật gắn với các khía cạnh tốt đẹp được lựa chọn để phát triển thì lời nói về sự thực này lại rất hay và sâu sắc.

Dụng tâm vào từ ngữ

Muốn nói hay phải có trí tuệ

Từ ngữ không phải tự nhiên mà có và cũng không phải lúc nào chúng ta cũng diễn đạt được điều mình muốn nói bằng từ ngữ. Có những lúc vốn từ của chúng ta không đủ, bị thiếu và phải được người khác dạy mới hiểu để có thể sử dụng được. Ví như lúc nhỏ tập nói rồi tập viết. Lớn lên đến trường, đến lớp rồi được dạy cho về những kiến thức phổ thông. Sau này, được dạy về những kiến thức nâng cao với những thuật ngữ chuyên ngành. Khi học tập hay suy nghĩ đều được diễn đạt bằng từ ngữ. Có thể nói số từ là lượng kiến thức của chúng ta. Nội dung của lời nói đều là kiến thức được nói ra.

Trong vốn liếng hàng trăm nghìn nhưng lại có những từ không thể kết hợp được với nhau tạo thành câu hoàn chỉnh. Mỗi một sự việc, hiện tượng có đặc điểm, tính chất khác nhau kéo theo đó là những tác động, ảnh hưởng cũng khác nhau, liệt kê ra sẽ tạo thành một hệ thống đa chiều. Khi diễn giải thì trung tâm của hệ thống là từ mà nội dung của nó chứa đựng sự việc, hiện tượng đó. Từ này chỉ có thể kết hợp với những từ khác tạo ra những hướng phát triển theo hệ thống được tạo ra xung quanh nó. Trong những hướng này thì tốt có mà xấu cũng có. Khi tìm được những từ phù hợp liên kết được với nhau theo hướng tốt đẹp thì lời nói ra sẽ là hay.

Dụng tâm vào điều tốt đẹp thì lời nói sẽ trở thành hiện thực

, Gia Cát Lượng đối đáp với anh tài Giang Đông (Nguồn: Tam Quốc 1996)

Trong "Tam quốc chí", có lần Gia Cát Lượng sang Đông Ngô để kết liên minh cùng đánh Tào Tháo. Có rất nhiều người với các ý kiến thể hiện mối quan tâm, lo lắng khác nhau về tình cảnh trước mắt. Nhưng cuối cùng, Gia Cát Lượng đã thuyết phục được Tôn Quyền kết liên minh và củng cố quyết tâm đánh Tào Tháo mà làm lên trận Xích Bích lừng danh.

Trong hoàn cảnh cụ thể, chúng ta là chủ của suy nghĩ như vị chúa công Tôn Quyền mà nhìn nhận sự việc từ các khía cạnh khác nhau để suy xét những hướng phát triển có thể có như những ý kiến của các vị quân sư bên Đông Ngô và Gia Cát Lượng. Tùy theo kết quả tốt xấu tương ứng mà chúng ta lựa chọn được hướng phù hợp để giải quyết vấn đề gặp phải. Lúc này, lời nói ra chính là giải pháp tốt nhất cho hiện tại trong hoàn cảnh hiện nay.

Khi bắt đầu từ hiện tại thì lời hay là hướng tốt đẹp nhất được lựa chọn để thực hiện trong cuộc sống. Đây là kết quả của việc đối mặt để giải quyết vấn đề gặp phải. Nói cách khác, khởi đầu của "Lời hay" là lựa chọn những hướng tốt đẹp nhất cho những sự việc xảy ra như chính bản thân mình đang gặp phải.

Như thành quách thu được từ thắng lợi của trận Xích Bích, lời nói này tạo ra kết quả thực sự trong cuộc sống. Những kết quả này gây ra những tác động, ảnh hưởng mới trước đây chưa từng có mà kiến thức được bổ sung và tạo ra cơ sở cho việc tìm kiếm những hướng phát triển tiếp theo. Khi so với lời không thật là vấn đề vẫn còn đó mà người nói chưa vượt qua được như việc các vị quân sư bên Đông Ngô bàn về hàng hay không hàng thì người nói lời hay và được ứng dụng đã tạo ra được khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển do lựa chọn đối mặt để giải quyết vấn đề.

Người Ý có câu "Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome", trong những điều có thể xảy ra thì chỉ trường hợp được lựa chọn mới trở thành hiện thực. Và đó cũng là lời nói hoặc chữ viết khi diễn giải sự việc. Mỗi sự việc lại có những mặt tốt, xấu khác nhau với các tác động, ảnh hưởng tới xung quanh mà hình thành lên một hệ thống đa chiều lấy nó làm trung tâm. Với hiểu biết của mình, người nói có thể biết được người nghe ở vị trí nào trong mạng lưới đó để có thể tạo ra được mối liên kết giữa họ với sự việc. Mối liên kết này chính là hướng nhìn nhận sự việc trên quan điểm (từ vị trí) của người nghe. Mỗi người nghe khác nhau lại có vị trí khác nhau, quan điểm khác nhau và dĩ nhiên là mối liên kết cũng khác nhau. Lúc này, lời nói như là sự dẫn dắt người nghe với quan điểm của chính họ tới trung tâm của hệ thống là sự việc rồi thuận theo đó mà kể ra sự tốt, xấu để đem lại lợi ích chân thật cho người nghe. Lúc này lời nói trở nên dễ nghe, dễ được chấp nhận do xuất phát từ quan điểm mà người nghe hiểu và chấp nhận được. Lời hay này vừa đem lại lợi ích cho người nghe vừa được diễn giải bằng những lời nói chứa đựng kiến thức đúng đắn. Lời hay lúc này tùy theo từng người, từng hoàn cảnh, từng mong muốn mà được nói ra khác nhau ví như cùng là vàng nguyên chất mà chế ra các loại trang sức cho từng người theo nhu cầu của người ta với điều kiện hiện tại. Điều này khiến cho lời nói trở nên ngày càng hay khi người ta nhìn thấy cụ thể những điều tốt đẹp mà nó đem lại trong thực tế.

"Lời hay thì không thật" là lời nói được tin dùng một lần do không có kết quả như được nói ra khiến cho những lần sau không còn được chú trọng. Do đó, người nói lời này không những không phải là người nói lời hay trong hoàn cảnh cụ thể mà nó còn gây ra sự nghi ngờ đôi khi là oán hận. Khi so sánh sẽ thấy, lời nói không được tin dùng thì vẫn loay hoay bị kẹt lại với những vấn đề đã cũ còn lời nói được áp dụng vào trong thực tế thì luôn chứa đựng thêm những kiến thức mới theo hướng tốt đẹp mà làm cho lời nói trở nên phong phú, chuyên sâu và ngày càng linh hoạt. Với những thành tựu thu được, người nói lời hay thực sự tạo được cơ sở để lời nói ngày càng hay hơn bằng sự phát triển thực sự trong cuộc sống. Mỗi thành tựu lại tạo ra một cơ sở, thành tựu sau dựa trên nền tảng của những thành tựu trước như việc xếp chồng từng hộp vuông mà tạo thành bậc để bước lên cao. Từng bậc, từng bậc một được tạo ra trong thực tế để đưa người ta lên cao mà tầm nhìn ngày càng xa và rộng.Từ vị trí của mình (quan điểm), người ta sẽ thấy được những hướng phát triển có thể có khác nhau. Lời hay là hướng phát triển tốt nhất có thể có từ hiện tại được lựa chọn thực hiện để tạo ra. Cơ sở để đánh giá hay hoặc không hay lại là những thành tựu thực tế của lời nói đó. Hay nói cách khác, hay lại luôn gắn với thực bằng sự phát triển được tạo ra.

Có hay không mối quan hệ giữa "Thật" và "Hay"?

Trong 4 trường hợp từ sự kết hợp giữa 2 cặp đối lập là "Thật, Không thật" với "Hay, Không hay"đã có 3 trường hợp trong thực tế. Đó là "Thật với Không hay" và "Hay với Không thật "trong "Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật" từ kinh nghiệm của Lão Tử. Đó là "Không thật với Không hay" trong "Lời vừa không thật lại vừa không hay" mà chúng ta vẫn nói hàng ngày. Còn một trường hợp nữa là kết quả của sự kết hợp giữa "Thật" với "Hay". Liệu "Thật" có kết hợp được với "Hay" không?

4. Phật dạy về khẩu nghiệp và "Lời vừa thật lại vừa hay"

4. Phật dạy về khẩu nghiệp và "Lời vừa thật lại vừa hay" , Phật dạy là lời vừa thật lại vừa hay

"Lời vừa không thật lại vừa không hay", hiển nhiên là chẳng ai thích. Không chỉ không thích nghe mà còn chẳng ai muốn lời nói của mình lại như thế cả. Nói không thật là vọng ngữ, nói không hay là ác khẩu. Tránh không nói "Lời vừa không thật lại vừa không hay" là việc xa rời vọng ngữ và xa rời ác khẩu. Khi xa lìa khẩu nghiệp thì lời nói sẽ là "Lời vừa thật lại vừa hay".

Khác với "Lời hay thì không thật" là lời chỉ được tin dùng một lần và "Lời thật thì không hay" là lời chỉ khi không còn lựa chọn thì người ta mới muốn nghe, muốn nói, "Lời vừa thật lại vừa hay" là lời người ta luôn ưu ái mà tìm đến đầu tiên.  Kiến thức thì đâu phải ngày một, ngày hai. Sự phát triển thì dài theo năm tháng. Lời nói là kết quả của việc tích lũy kiến thức, phát triển bản thân một cách bền bỉ, liên tục trong thời gian dài. "Lời vừa thật lại vừa hay" có thể là kết quả của quá trình từ "Thật" cho đến "Hay" và cũng có thể là kết quả của quá trình từ "Hay" cho đến "Thật". Biểu hiện của hai quá trình này là "Lời thật nhưng lại hay" và "Lời hay nhưng lại thật". "Lời hay nhưng lại thật" không phải ngược lại của "Lời thật nhưng lại hay". Cũng không phải là sự thay đổi của lời nói như khi chuyển từ cực "Hay" sang cực "Thật" và ngược lại từ cực "Thật" sang cực "Hay". "Trăm sông đổ về một biển", các con sông chỉ chảy về biển thôi chứ không phải là nước từ sông này đổ dồn về biển rồi lại chảy qua sông kia. Ra tới biển thì nước của các con sông hòa với nước biển mà có vị mặn. Nhưng nước trong các con sông lại không có vị mặn của biển và cũng khác xa nhau. Cũng như vậy, "Lời hay nhưng lại thật" có bản chất khác hẳn với "Lời thật nhưng lại hay".

Lời thật nhưng lại hay

"Lời thật nhưng lại hay" là lời nói bắt nguồn từ hiểu biết của người nói và được hướng tới tạo ra sự hữu ích cho người nghe. Giống như những nhà khoa học công bố các khám phá của mình mà mọi người với khả năng khác nhau lại có những ứng dụng cụ thể cho từng lĩnh vực và hoạt động. Cùng một sự thật nhưng mỗi người nghe lại thu được nhưng lợi ích khác nhau do khả năng cũng như sự quan tâm khác nhau. Hiển nhiên, cũng với sự thật đó nhưng lại nói về khía cạnh mà người nghe không quan tâm, ưa thích thì sẽ không tạo ra được lợi ích cho người ta. Lúc này, lời nói sẽ không tạo ra lợi ích thực sự mà trở thành không thật trong hoàn cảnh hiện tại của người nghe. Cùng một sự thật, tùy vào mỗi người mà được nói ra trong hoàn cảnh thích hợp. Lời thật là sự thật được diễn giải theo hướng người nghe quan tâm một cách rõ ràng, đầy đủ để người ta có thể tiếp nhận một cách tự nhiên mà tạo ra lợi ích thực sự trong cuộc sống của mình. "Lời thật nhưng lại hay" như là quá trình loại bỏ từng chút, từng chút một những gì được cho là không hay để những gì tạo ra là tốt đẹp nhất cho cuộc sống. Nó là quá trình gọt giũa kiến thức bằng tấm lòng của người ta.

Người nghe đâu chỉ có một, sự việc lại nối tiếp nhau xảy ra nên người nói thật cũng là người không ngừng học tập, tìm hiểu mà kiến thức ngày càng tăng lên. Cũng như học, học nữa, học mãi vậy, đối với người truy cầu sự thật, kiến thức tăng lên theo thời gian. Chính vì hiểu biết ngày càng sâu rộng mà lời nói ngày càng được người nghe tin tưởng và làm theo. Lợi ích tạo ra trong cuộc sống của người nghe ngày càng nhiều khiến cho lời nói ngày càng thật và mở ra nhiều hướng phát triển. Thật vì sự lan tỏa lợi ích trong cuộc sống mà trở lên ngày càng hay.

Lời hay nhưng lại thật

"Lời hay nhưng lại thật" là lời nói bắt nguồn từ sự hữu ích cho người nghe mà gợi mở ra hướng phát triển tốt đẹp từ thực tại. Giống như nhà văn viết lên những câu truyện, họa sẽ vẽ ra những bức tranh, nhạc sĩ sáng tác ra những bài hát, chỉ khi nào được chấp nhận chúng mới có giá trị và trở thành một phần trong cuộc sống. Lời nói cũng vậy, chỉ khi nào có đóng góp cho việc xây dựng cuộc sống của người nghe thì mới là thật. Mỗi người nghe lại có hiểu biết khác nhau với các điều kiện cụ thể trong hoàn cảnh riêng biệt. Theo đó là sự hữu ích của cùng một sự việc xảy ra nhưng trong cuộc sống của mỗi người lại khác nhau. Quan điểm và các điều kiện tạo ra hướng phát triển tốt nhất cũng khác nhau. Mỗi lời nói hay lại tạo ra một kết quả tốt đẹp và làm lên một cuộc sống có giá trị. Thật ở đây là giá trị được tạo ra cho cuộc sống từ mỗi lời nói hay. Từ nguyên thủy đơn sơ cho tới nay, mọi thành tựu đều là hiện thực của những ý tưởng hay nhất được đưa ra. "Lời hay nhưng lại thật" như là quá trình góp nhặt từng chút, từng chút một những gì được cho là tốt đẹp mà tạo ra sự phát triển thực sự trong cuộc sống. Nó là quá trình mở rộng tấm lòng bằng kiến thức của người ta.

Cũng giống như sự đào thải trong quá trình phát triển, lời nói hay tương xứng với hiểu biết mà thay đổi theo thời gian. Càng hay thì lại càng tạo ra cơ sở cho sự phát triển mà lời nói có căn cứ thực tại chứ không đứt quãng mà viển vông, mơ hồ. Hay tạo ra thật và thật là cơ sở để thêm hay (ngày càng hay hơn).

5. Pháp tu để lời nói ra là "Lời vừa thật lại vừa hay"

5. Pháp tu để lời nói ra là "Lời vừa thật lại vừa hay", Phật Thuyết Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo

Phật dạy cách để nói được "Lời vừa thật lại vừa hay" trong kinh Thập thiện nghiệp đạo. "Đó là việc ngày đêm thường nhớ, suy nghĩ, quán sát pháp lành, khiến cho mỗi niệm, mỗi niệm tăng trưởng, không để mảy may pháp bất thiện xen lẫn, đó là khéo làm cho các pháp ác dứt hẳn, pháp thiện viên mãn".

Trong khi "Lời thật thì không hay, lời hay thì không thật" có tính thời điểm, nó tùy theo tâm trạng của người nói, mối quan hệ với người nghe, hoàn cảnh giao tiếp cũng như sự việc được nói tới thì "Lời vừa thật lại vừa hay" lại là kết quả của việc kiên trì thực hiện một lựa chọn. Lựa chọn này được kiên trì thực hiện không thay đổi theo thời gian, không phân biệt người này và người nọ, xuyên suốt mọi hoàn cảnh, đối với sự việc nào cũng vậy. Tuy việc ngày đêm thường nhớ có thể là quá khó nhưng nhiều khi trong khoảnh khắc lời nói ra lại chứa đựng kiến thức cao nhất của chúng ta và được thể hiện một cách đầy thiện ý. Lời đó là lời thật nhất và cũng là hay nhất của chúng ta khi đó. Tuy bị giới hạn bởi khả năng của mình nhưng vẫn là "Lời vừa thật lại vừa hay".

Khi xa lìa vọng ngữ sẽ được:

- Miệng thường thơm mùi hoa sen xanh

- Mở lời thành chứng nhân thiên kính mến

- Được người đời tín phục

- Thường đem lời thanh tịnh an ủi chúng sinh

- Nói không sai lầm lòng thường hoan hỷ

- Ý vui thù thắng ba nghiệp thân khẩu ý thường trong sạch

- Mở lời tôn trọng nhân thiên phụng hành

- Trí tuệ thù thắng không ai chế phục

Khi xa lìa ác khẩu sẽ được:

- Lời nói không trái pháp độ

- Lời nói lợi ích

- Lời nói quyết lý

- Lời nói mỹ diệu

- Lời nói thừa lãnh được

- Lời nói được tin dùng

- Lời nói không thể chê

- Lời nói được ưa thích

(thuvienhoasen.org)

"Lời thật thì không hay" là lời vô tâm. "Lời hay thì không thật" lại có dụng tâm không tốt. "Lời vừa không thật lại vừa không hay" là lời vừa hại mình lại vừa hại người. Lời nói gió bay nhưng "Lời vừa thật lại vừa hay" lại đi cùng với mọi người trong quá trình phát triển và hiện hữu cụ thể trong cuộc sống của chúng ta. "Lời vừa thật lại vừa hay" là lời tạo ra giá trị cho cuộc sống.