Sự tích bánh chưng bánh dầy

Sau khi Hùng Vương đã phá giặc Ân rồi, trong nước thái bình mới lo việc truyền ngôi cho con, hội hai mươi hai vị công tử lại mà bảo rằng: 'Đến kỳ cuối năm, đứa nào làm vừa lòng ta biết đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng tiên vương để tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho'.

Các công tử lo đi tìmcác vị chân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc mua ở chợ, vụ được nhiều của ngonvật lạ không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ chín tên là Lang Liệu, bàmẹ hàn vi đã lâm bệnh mà quá cố rồi, tả hữu lại ít người nên khó bề toan tính,ngày đêm thao thức ăn ngủ không yên. 

 Hốt nhiên mộng thấy thần nhân bảo rằng: - Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân, ngườita ăn mãi không chán, không có vật gì đứng trước được. Nếu lấy gạo nếp hoặc góilàm hình tròn để tượng trời, hoặc gói làm hình vuông để tượng đất, ở trong làmnhân cho thật ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý cái ơntrời đất phát dục vạn vật, như thế thì lòng cha sẽ vui, tôn vị chắc được. 

Lang Liệu kinh sợ tỉnh dậy, mừng rằng: “Thần minh giúp ta, ta nên bắt chướctheo mà làm.” 

Lang Liệu mới lựa hột nếp nào trắng tinh, hoàn toàn không sứt mẻ thì đem vo kỹ,để cho ráo, rồi lấy lá chuối gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đemnấu đi cho chín, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu sôi đem giã cho thậtnhuyễn, nặn làm hình tròn để tượng hình trời, gọi là bánh dày. 

Đúng kỳ, Vương hội các con trưng bày phẩm vật; các con đem lại không thiếu thứcgì, duy Lang Liệu đem bánh tròn, bánh vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏiLang Liệu, Lang Liệu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vương thân hành nếmthử thì thấy vị ngon vừa miệng, ăn không chán, phẩm vật của các công tử kháckhông sao hơn được. Vương khen ngợi giây lát, rồi cho Lang Liệu được giải nhất. 

Năm hết, Vương dùng bánh ấy dâng lên Tiên Miếu và cung phụng cha mẹ, thiên hạbắt chước truyền đến bây giờ, lấy tên của Lang Liệu để gọi là Tiết Liệu. Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liệu; hai mươi mốt anh em đều giữ các phiêntrấn, lập làm bộ đảng, cứ thủ núi sông để làm hiểm cố. 

Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Học Toàn Thư II, Cổ tích (Saigon, 1959), 78 trang