Thần thoại Ấn Độ: Thần bảo tồn Vishnu

Hai hình ảnh thông thường nhất cho thấy Vishnu nằm nghỉ trên mình của xà thần Shesha (Di Tích), bềnh bồng trên mặt biển nguyên thủy Ananta (Vô Biên), hoặc Vishnu đứng thẳng, bốn bàn tay nắm giữ bốn vật tượng trưng là vỏ ốc, đĩa tròn, bông sen và cái chùy. Vỏ ốc tượng trưng ngũ hành; cái đĩa sáng như mặt trời tượng trưng thần trí; bông sen tượng trưng vũ trụ vận hành; và cái chùy tượng trưng cho trí thức nguyên thủy.

 Về hóa thân (Avâtara) thì có nhiều, nhưng thông thường người ta chỉ nói đếnmười kiếp hóa thân của Vishnu trong mỗi đại kỷ nguyên (mâhayuga). Đó là : 

1. Matsya (Cá) cứu cho Manu, tổ loài người, thoát khỏi nạn hồng thủy. Chuyệnnày khiến cho chúng ta liên tưởng đến chuyện Noé và chiếc tàu trong Kinh Thánhvào dịp đại hồng thủy, nước dâng lên trên mặt đất trọn một trăm năm mươi ngày. 

2. Kârma (Rùa), giúp cho chư thần vét Biển Sữa (Samudra mathana) để thâu hồinhững sinh vật và dụng cụ cần thiết đã bị thất lạc trong trận hồng thủy. 

3. Vâraha (Lợn rừng) kéo mặt đất chìm dưới đáy đại dương lên mặt nước để chomuôn loài cư ngụ. 

4. Narasimha (Nhân Sư), mình người đầu sư tử, giúp cho Prahlâda, con traiquỷ vương Hyranya Kashipu, thoát khỏi nanh vuốt của cha y để có thể tu thànhchính quả. Bốn kiếp hóa thân trên đây thuộc đệ nhất kỷ nguyên, tức Kritayuga,thời đại hoàng kim. 

5. Vâmana (Người Lùn) dùng mưu để truất ngôi của Quỷ vương Bali khi ấy đanglàm chúa tể ba cõi (Trời, Đất, Địa Ngục). 6. Parashu Râma (Râma cầm rìu), hai mươi mốt lần tiêu diệt đẳng cấp chiếnsĩ (Kashatriya) để lấy lại uy quyền cho đẳng cấp Bà La Môn (Brâhmana). 

7. Ông hoàng Râma, nhân vật chính của thiên anh hùng ca Râmâyana, và là vua xứAyodhyâ, tiêu diệt quỷ vương Râvana xứ Lankâ (Tích Lan ngày nay) để cứu vãn hòabình và công lý. (Sẽ đọc sau đây). Ba kiếp hóa thân trên đây thuộc đệ nhị kỷnguyên, tức Tretâyuga, thời đại bạch ngân. 

8. Krishna (ông Hoàng đào hoa), nhân vật quan trọng trong thiên anh hùng caBhagavad-gitâ, chỉ dẫn cho nhân loại làm thế nào thực hiện được giải thoát. Krishna xuất hiện vào cuối Đệ tam kỷ nguyên tức Dvâpara-yuga, thời đại thiện ácquân bình.  

9. Buddha (Phật) xuất hiện để giải thoát nhân loại bằng tứ diệu đế và bátchánh đạo. 

10. Kalki (Thành Tựu) chưa xuất hiện. Thần này sẽ ngự trên mình ngựa trắng, taycầm thanh kiếm sáng như sao chổi, và khi xuất hiện, toàn thể vũ trụ sẽ bị tiêudiệt để sau đó lại được tái thiết lập trong một đại kỷ nguyên mới, mở đầu bằngthời đại hoàng kim. Buddha và Kalki thuộc đệ tứ kỷ nguyên, tức Kali-yuga, thờiđại hỗn loạn. 

Cũng như giữa hai đầu sinh và tử là sự sống, giữa thần Sáng TạoBrahmâ và thần Hủy Diệt Shiva, có thần Bảo Hộ Vishnu. Vishnu sẵn sàng che chởvà cứu giúp con người. Khi cần đến, Vishnu sẽ giáng trần để trực tiếp ra tay tếđộ chúng sinh. Bởi bản tính tốt lành ấy, đền thờ Vishnu đầy rẫy khắp Ấn Độ vàngười ta đã mệnh danh Vishnu bằng những danh hiệu vô cùng tốt đẹp như Thánh củacác Thánh (Pavitram pvitrânâm), Đạo (Marga), chân lý (Tattva), Từ phụ (Pitâ),Thân Hữu (Suhrid)…   

Danh từ Vishnu do tự căn Vish nghĩa là tràn lan thấm nhập. Vishnu biểu hiệnphẩm tính thuần khiết (Sattva) có khuynh hướng quy tâm, trái với phẩm tính hủydiệt (Tamas) có khuynh hướng ly tâm mà Shiva là biểu hiện.   

Ấn Độ Giáo dường như không muốn thừa nhận Phật là hóa thân của Vishnu vìđường lối Phật trái ngược với chế độ tứ đẳng cấp của truyền thống Ấn Độ Giáo. Dư luận các học giả trên thế giới thì nhiều người lấy làm lạ về điểm đạo Phậtxuất hiện ở Ấn độ mà rồi lại rời khỏi Ấn Độ để phát triển ở ngoài Ấn Độ. Điềuđáng ngạc nhiên hơn nữa là đạo Phật rời khỏi Ấn Độ mà không hề gây sự va chạmđổ máu nào.  

Thật ra tinh thần đạo Phật vốn uyển chuyển nhưnước, đi tới nơi nào thích nghi với tinh thần dân tộc nơi đó. Như Bloomfield,tác giả cuốn The Religion of the Veda, đã xác nhận là không có một hình thức tưtưởng quan trọng nào ở Ấn Độ, kể cả triết học Phật Giáo, mà không bắt nguồn từÁo Nghĩa Thư Upanishad. Vậy đến như ra nước ngoài mà đạo Phật còn dễ dàng đồnghóa với tinh thần từng dân tộc, nói chi ngay tại xứ sở mình! Chuyện Phật là hóathân thứ chín của Vishnu chính là ngụ ngôn “lá rụng về cội”, giải quyết đượcmọi thắc mắc trên của các học giả thế giới – đặc biệt học giả Tây phương. 

Beswich, Ethel, Tales of Hindu Gods and Heroes. Bombay, 1960.