12 tên gọi của nước ta qua các thời kỳ lịch sử

Qua mỗi giai đoạn lịch sử, nước ta có một quốc hiệu (tên nước) khác nhau. Mời các bạn cùng xem bài viết sau đây.

26,098
Bình chọn: 8/8

Trên thế giới này, chẳng có quốc gia nào không có tên nước (quốc hiệu). Bởi đó là cái để phân biệt nước này với nước kia, là cái để ta yêu thương, ta xây đắp, ta tự hào và ta hướng về nguồn cội ông cha. Việt Nam, một đất nước hơn 4 nghìn năm văn hiến anh hùng đã trải qua nhiều quốc hiệu khác nhau trong các thời kỳ lịch sử. Sau đây là những quốc hiệu mà bất kỳ người nào mang dòng máu Việt cũng nên biết:

1. Xích Quỷ - Tên nước ta thời vua Kinh Dương Vương

1. Xích Quỷ - Tên nước ta thời vua Kinh Dương Vương,tên nước,quốc hiệu,ý nghĩa

Theo truyền thuyết, các tài liệu và thư tịch cổ, năm 2879 Trước Công nguyên, Kinh Dương Vương lên ngôi vua, lập lên Nhà nước Xích Quỷ - nhà nước sơ khai độc lập có chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Kinh Dương Vương kết duyên với Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tên húy là Sùng Lãm). Sau đó, Lạc Long Quân kết duyên với Âu Cơ sinh ra các vua Hùng.

2. Văn Lang - Tên nước ta thời các Vua Hùng

2. Văn Lang - Tên nước ta thời các Vua Hùng,tên nước,quốc hiệu,ý nghĩa

Từ đầu thời đại đồng thau, có khoảng 15 bộ Lạc Việt sinh sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong số các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra thống nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng lên Nhà nước Văn Lang, xưng vua - mà sử cũ gọi là Hùng Vương,  kinh đô đặt ở Phong Châu. 

Quốc hiệu Văn Lang mang ý nghĩa gì? Hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau.  Theo ý tôi, lang là lan tỏa, văn là văn hóa. Văn Lang nghĩa là cội nguồn văn hóa mang sức mạnh lan tỏa. 

Thời gian tồn tại của nước quốc hiệu Văn Lang tồn tại khoảng 2.671 năm khoảng từ đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ III trước Công nguyên.

3. Âu Lạc - Tên nước ta thời vua An Dương Vương

3. Âu Lạc - Tên nước ta thời vua An Dương Vương,tên nước,quốc hiệu,ý nghĩa

Sau khi khiến Tần Thủy Hoàng phải lui quân chịu thất bại trong âm mưu xâm lược nước ta vào năm 208 trước công nguyên, Thục Phán bằng ưu thế của mình đã xưng vương (An Dương Vương), liên kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên nước Âu Lạc (tên ghép hai chữ của hai bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt). Quốc hiệu Âu Lạc tồn tại 50 năm từ 257 trước CN  đến 207 trước CN

4. Vạn Xuân - Tên nước ta thời nhà tiền Lý và nhà Ngô

4. Vạn Xuân - Tên nước ta thời nhà tiền Lý và nhà Ngô,tên nước,quốc hiệu,ý nghĩa

Vào mùa Xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lương, giải phóng được lãnh thổ. Đến tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, lấy tên hiệu là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân (Với ý nghĩa đất nước bền vững vạn mùa Xuân), khẳng định niềm tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập và mong muốn đất nước được bền vững muôn đời.

Chính quyền Lý Bí tồn tại không lâu thì thất bại, nước ta rơi vào vòng đô hộ của các triều đạiTrung Quốc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân trải qua nhiều thăng trầm và được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng chiến thắng Bạch Đằng năm 938. 

,tên nước,quốc hiệu,ý nghĩa

5. Đại Cồ Việt - Tên nước ta thời nhà Đinh

5. Đại Cồ Việt - Tên nước ta thời nhà Đinh,tên nước,quốc hiệu,ý nghĩa

Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 sứ quân cát cứ, thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế và cho đổi quốc hiệu là Ðại Cồ Việt (Đại nghĩa là lớn, Cồ nghĩa là lớn, do đó tên nước ta có nghĩa là nước Việt lớn). Ta cũng thấy lần đầu tiên yếu tố “Việt” được có trong quốc hiệu

Tên nước Đại Cồ Việt tồn tại 86 năm (968-1054) trải qua suốt đời Ðinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).

8 0

Bài liên quan: tên nước, quốc hiệu, ý nghĩa,